Đại Hội XI: Việt Nam ở đâu trong bản đồ kinh tế thế giới?

Thứ sáu - 14/01/2011 11:14
Đại Hội XI: Việt Nam ở đâu trong bản đồ kinh tế thế giới?

Đại Hội XI: Việt Nam ở đâu trong bản đồ kinh tế thế giới?

Nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001- 2010, hiện nay, Việt Nam đang đứng ở đâu trong bản đồ kinh tế, xã hội của thế giới ?

Đó là câu hỏi đồng chí Võ Hồng Phúc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra trong báo cáo tham luận tại phiên thảo luận tại Hội trường Đại hội XI chiều ngày 13-1

Tham luận, nêu rõ khi bước vào thời kỳ chiến lược 2011-2020, tiềm lực kinh tế được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển. Sau hơn 20 năm đổi mới, nhất là 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, tiềm lực kinh tế Việt Nam được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển. Thời kỳ 2001 - 2005 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm là 7,5% và hai năm 2006 - 2007 đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 8%. Các năm 2008 - 2010, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 5,96% (năm 2009 đạt 5,3% và năm 2010 đạt 6,78%); bình quân 5 năm (2006 - 2010) đạt 7%/năm và 10 năm (2001 - 2010) tăng trưởng 7,26%/năm, đạt mục tiêu chiến lược đã đề ra. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt trên 101,6 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.160 USD. Nước ta đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, bằng khoảng 40,5% GDP; Năng lực sản xuất nhiều ngành kinh tế tăng đáng kể. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, một số cân đối lớn của nền kinh tế (ngân sách Nhà nước, cán cân thanh toán tổng thể, nợ quốc gia và dự trữ ngoại tệ,...) cơ bản được bảo đảm. Kết cấu hạ tầng có bước phát triển quan trọng. Nhiều công trình mới đã phát huy tác dụng. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 24,2% năm 2000 lên trên 30% năm 2010. Diện tích nhà ở tăng từ 8 m2/người lên 12,5 m2/người. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP tăng từ 36,7% năm 2000 lên 41,1% năm 2010; tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,5% xuống còn khoảng 21,6% và tỷ trọng dịch vụ giữ mức 38,3%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 65,1% năm 2000 xuống 57,1% năm 2005 và xuống còn 48,2% năm 2010.

Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện, các cân đối vĩ mô chưa thật sự vững chắc. Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao và sử dụng nhiều vốn; năng suất lao động xã hội và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp, chậm cải thiện. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng công nghiệp chủ yếu là gia công, hàm lượng công nghệ thấp và giá trị gia tăng thấp. Năng suất lao động còn rất thấp so với các nước trong khu vực, năng suất lao động của Trung Quốc gấp 2,6 lần và Thái Lan gấp 4,3 lần năng suất lao động của Việt Nam. Tiêu hao năng lượng lớn, để tạo ra một 1 USD GDP, Việt Nam đã phải tốn lượng điện năng bằng 4,65 lần Hồng Kông, gần 2,10 lần Hàn Quốc, 3,12 lần Singapore, khoảng 1,37 lần Thái Lan và 1,69 lần Malaysia.

Kết cấu hạ tầng phát triển chậm, chất lượng thấp, thiếu đồng bộ đang cản trở sự phát triển. Mạng lưới giao thông chưa hoàn chỉnh, chất lượng thấp, chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, hải cảng và sân bay hiện đại. Kết cấu hạ tầng đô thị, nhất là ở các đô thị lớn vừa thiếu đồng bộ, vừa kém chất lượng đang gây ách tắc cho phát triển. Nguồn và lưới điện chưa đáp ứng kịp yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân. Sản lượng điện bình quân đầu người một năm của Việt Nam mới ở mức 692,5 kwh, còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, quản lý chưa tốt và hiệu quả sử dụng chưa cao. Hạ tầng đô thị, đặc biệt là giao thông, cấp và thoát nước ở các đô thị vừa thiếu, không đồng bộ, vừa kém chất lượng và quá tải, đang gây ách tắc cho phát triển.

Thể chế kinh tế thị trường chưa theo kịp yêu cầu phát triển; sức sản xuất chưa được giải phóng triệt để. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, chưa đóng góp đáng kể vào nâng cao năng suất, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội; chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề, trình độ, vùng miền và yếu về tính chuyên nghiệp; đặc biệt là thiếu nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia lành nghề trình độ cao, đội ngũ cán bộ quản lý giỏi; tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (40%).

Thực tiễn 10 năm qua khẳng định con đường phát triển của đất nước ta là đúng đắn và có thể rút ra những bài học chủ yếu để làm tốt hơn trong thời gian tới:

Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Phát triển bền vững là yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia. Trong 10 năm qua, nền kinh tế nước ta đã phát triển khá nhanh, nhưng thực tiễn cho thấy, trong phát triển nhanh phải đặc biệt coi trọng tính bền vững; phải kịp thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; phải đề cao yếu tố năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển toàn diện con người, bảo vệ môi trường; giải quyết tốt mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; phát triển trong giai đoạn này phải tạo tiền đề cho sự phát triển vững chắc trong giai đoạn sau.

Trong điều kiện càng đi sâu vào kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước phải giải quyết nhiều vấn đề mới, phức tạp, do đó, phải xây dựng cho được thiết chế thích hợp tạo sự gắn kết và phát huy cao nhất hiệu quả của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ để tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý điều hành tổ chức thực hiện của Nhà nước và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp.

Tác giả bài viết: Minh Đăng

Nguồn tin: Tamnhin.net

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bạn cần đăng nhập thành viên để sử dụng chức năng này

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thời tiết

  • °C

Tỉ giá

 
Tháng
Năm 

Tra theo từ điển:


Tham khảo ý kiến khách hàng

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

  • Liên tục được cải tiến, sửa đổi bởi cả thế giới.
  • Được sử dụng miễn phí không mất tiền.
  • Được tự do khám phá, sửa đổi theo ý thích.
  • Phù hợp để học tập, nghiên cứu vì được tự do sửa đổi theo ý thích.
  • Tất cả các ý kiến trên
  •  
  • Liên kết hợp tác
  •  
  •  
  •  
  •  

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 574

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 29415

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4166535

  •  
  •  
  •